Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ thuật Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ thuật Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Luận về Hội họa Việt - (3)

Bút đàm giữa hai họa sĩ Lê Thiết Cương và Lê Quảng Hà


MÈO TRÔNG NHÀ Tác giả : Họa sĩ LÊ THIẾT CƯƠNG



Cái điểm khác nhau cơ bản giữa hội hoạ giá vẽ và nghệ thuật mới (nghệ thuật trình diễn, sắp đặt, video art...) là ở chỗ. Hội hoạ giá vẽ phải đạt mục đích cuối cùng là đẹp. Tranh phải đẹp. Không nhất thiết phải có ý tưởng gì. Như H. Matisse vẽ tĩnh vật lọ hoa, P. Cézanne vẽ quả táo, V. Van Gogh vẽ đôi giày. Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, ai ai cũng đều thích nhìn ngắm những bức tranh đẹp. Nghệ thuật mới thì khác hẳn, không nên gọi nó là hội hoạ ngoài giá vẽ. Đó là một loại hình nghệ thuật độc lập.

Mục đích của nghệ thuật mới không phải tạo ra cái đẹp về mặt thị giác. Mục đích của nghệ thuật mới là tạo ra một thông điệp. Một tác phẩm nghệ thuật mới bắt buộc phải có ý tưởng, phải xuất phát từ một ý tưởng nào đó cũng như kết thúc nơi người xem ở chỗ họ phải nhận được ý tưởng của nghệ sỹ thông qua tác phẩm. Hiệu quả thị giác của các tác phẩm nghệ thuật mới vì thế có thể là ghê rợn, kinh hãi, hoảng sợ, hoang mang, căng thẳng. Tất nhiên dù gì đi chăng nữa thông qua cái đẹp thị giác của hội hoạ giá vẽ hay những ý tưởng nằm dưới các trạng thái thị giác “không đẹp” của nghệ thuật mới thì cũng đều gặp nhau ở điểm cuối cùng là làm cho tâm hồn của người xem đẹp hơn thôi. Loại hình nghệ thuật nào, cũ hay mới cũng đều phải đánh cược vào những câu chuyện của con người, những số phận, thân phận của con người để làm con người đẹp hơn. Không có nghệ thuật nào lại tụng ca cho những điều “phản người” cả.


Với những suy nghĩ như trên về hội hoạ giá vẽ và nghệ thuật mới thì khi xem triển lãm Máy của Lê Quảng Hà*, tôi thấy Lê Quảng Hà có sự nhầm lẫn? Triển lãm của anh gồm hai phần, những bức tranh sơn dầu, sơn mài trên vải và những tác phẩm sắp đặt theo tinh thần tượng. Tất cả những bức tranh của Hà đều vẽ những con người – máy, người lai máy, nửa người nửa máy trông rất ghê rợn, rất quái gở, khô khan, lạnh lẽo. Dù vẽ máy móc, cơ khí, lưỡi cưa, dây điện, cua-roa, răng cưa thì vẫn không nên thiếu cảm xúc, không nên vô cảm như vậy. Cho dù người ta vẽ cảnh tang tóc, chiến tranh súng ống thì vẫn phải vẽ bằng sự cảm động. F. Léger vẽ nhà máy, công nhân mặc quần áo bảo hộ nhưng vẫn cảm động. Tôi nghĩ Hà vẽ những bức tranh này lạnh lùng quá, “máy móc” quá. Anh quá chú trọng chạy theo ý tưởng. Những bức tranh của Lê Quảng Hà nhiều ý tưởng quá mà lại thiếu vẻ đẹp thị giác. Những bức tranh có vẻ như một bài phản biện, cũng không sao nhưng nó phải được chuyển tải bằng cái đẹp. Tranh chứ không phải là một bài xã luận.

Phần 2 của triển lãm là những tác phẩm sắp đặt dưới dạng “điêu khắc” bằng cách lắp ghép, sắp xếp, móc nối, hàn gắn những chi tiết máy móc cũ quá date để thành những hình người, thành những ông Phúc Lộc Thọ trông rất khó chịu, rất tức mắt, rất man rợ, rất “khủng bố” trông rất “xấu”, rất bực mình nhưng rất hấp dẫn, rất đã, rất sướng đúng kiểu chơi của sắp đặt vì như trên đã nói nghệ thuật sắp đặt đâu cần đẹp mắt. Và qua những cái “rất” đó Lê Quảng Hà đã thành công khi truyền được cái thông điệp của anh đến người xem như anh nói: “Khi quan sát những đồ vật, dụng cụ, máy móc, xe cộ đã qua sử dụng và bị bỏ đi, hay như cái cây cổ thụ đã chết, một toà nhà xấu xí, một khu phố lộn xộn, một thành phố mất trật tự...tôi thường nghĩ, liệu mình có thể tái sinh chúng bằng cách sắp xếp lại chúng với cái nhìn thẩm mỹ mang tính nghệ thuật cá nhân mình? Và từ những suy nghĩ lẻ tẻ, rời rạc, đã hình thành một cái gì đó, như một hiệu ứng domino, nó loang như vết dầu, tôi cố tình không kiểm soát nó bằng lý trí, mà thả cho nó phát triển tự do, không bị ràng buộc bởi các lý thuyết hay ý thức hệ về con người và xã hội, nhưng đồng thời vẫn không hề tách rời khỏi con người và xã hội”. Thậm chí còn hơn thế. Khi nhìn những người máy của Hà, người ta còn thấy sự ràng buộc, móc nối, dính líu của người và máy, của những người máy, máy như người và quan hệ của “họ” với xã hội. Nhìn chiếc xe công nông được Hà trang trí lại trông vừa hài hước vừa mơ mộng và giúp người xem được hoang tưởng.


Cái phần chưa được qua triển lãm “Máy “ của Lê Quảng Hà chính là ở chỗ Hà nhầm lẫn 2 khái niệm tranh giá vẽ và nghệ thuật sắp đặt. Giả sử sau khi anh làm xong các tác phẩm sắp đặt thì anh hãy quên chúng đi, hãy đi đâu đó, hãy tạm “chết” cái anh nghệ sĩ sắp đặt đi đã rồi hãy quay về xưởng hoạ, ngồi trước toan, đợi anh hoạ sĩ giá vẽ trở về và mới bắt đầu cầm bút, bóp sơn ra bảng pha màu...thì tốt hơn. Hay nói cách khác, trong lúc vẽ tranh nhưng tâm hồn anh vẫn đang lơ mơ cùng sắp đặt. Hà giống như một anh chàng trong chuyện cổ ra chợ mua một con mèo thật to khoẻ về để một công đôi việc vừa bắt chuột, vừa...trông nhà. Kết cục là nhà không còn một con chuột nào nhưng trong nhà cũng chẳng còn đồ đạc gì vì bọn trộm đâu có sợ mèo. Nói cách khác Hà đừng mang cái tâm thế của một nghệ sĩ sắp đặt để vẽ tranh thì chắc là những bức tranh của Hà sẽ tranh hơn chăng?

Lê Thiết Cương

----------------------------------------------------------------

THƯ NGỎ GỬI HOẠ SĨ LÊ THIẾT CƯƠNG Tác giả : Họa sĩ LÊ QUẢNG HÀ


Thiếu phụ ngự ghế bành, tranh sơn mài (2008)


Đọc bài “Mèo trông nhà” của hoạ sĩ Lê Thiết Cương trên tạp chí Tia sáng ra ngày 17-11-2008, tôi thấy có vài điều cần trao đổi cùng Cương về quan niệm và nhận thức trong sáng tác. Thật ra, nếu chỉ là nhận thức của cá nhân anh, có lẽ tôi đã không tranh luận. Bởi khi sáng tác, tôi vẫn luôn dành những khoảng trống riêng tư cho người xem, coi đó như là sự tôn trọng khán giả. Bởi theo tôi, nhận thức phụ thuộc vào khả năng của mỗi người, không dễ gì thay đổi. Còn tôi không phải nhà giáo dục thẩm mỹ. Thông điệp do tôi đưa ra, còn tiếp nhận thông điệp đó thế nào thì lại phụ thuộc vào trạng thái tình cảm và hoàn cảnh của người xem. Đây là mối quan hệ hai chiều bình đẳng. Vấn đề ở chỗ, Lê Thiết Cương bằng sự ngộ nhận cá nhân đã đưa ra những những định nghĩa lệch lạc về nghệ thuật và sáng tạo nên tôi thấy cần trao đổi thêm với anh về một số điểm sau:


Bộ ba Liên minh, tranh sơn mài (2008)


1.
Lê Thiết Cương, trong vai người am hiểu nghệ thuật nói chung và nghệ thuật đương đại nói riêng, có nhận xét triển lãm của tôi là sự lồng ghép giữa nghệ thuật giá vẽ và nghệ thuật sắp đặt. Anh đưa ra định nghĩa về sự khác biệt cơ bản giữa hai dòng nghệ thuật này như sau:

Cái điểm khác nhau cơ bản giữa hội hoạ giá vẽ và nghệ thuật mới (nghệ thuật trình diễn, sắp đặt, video art...) là ở chỗ: Hội hoạ giá vẽ phải đạt mục đích cuối cùng là đẹp. Tranh phải đẹp. Không nhất thiết phải có ý tưởng gì. Như H. Matisse vẽ tĩnh vật lọ hoa, P. Cézanne vẽ quả táo, V. Van Gogh vẽ đôi giày. Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, ai ai cũng đều thích nhìn ngắm những bức tranh đẹp. Nghệ thuật mới thì khác hẳn, không nên gọi nó là hội hoạ ngoài giá vẽ. Đó là một loại hình nghệ thuật độc lập.

Đọc phần này quả thật tôi hình dung Cương như thầy bói xem voi khi nói về các bậc tiền bối mà anh nhắc đến, chắc vì Cương không nhìn thấy và không nhận ra mà nói bừa. Chứ các vĩ nhân, họ chẳng làm gì mà không có ý đâu! Có những ý tưởng lớn lao nhưng cũng có những ý tưởng giản dị. Quan niệm đẹp, xấu mỗi thời cũng có thay đổi. Người Tài có khả năng làm thay đổi quan niệm về cái Đẹp. Họ sẽ thuyết phục người khác bằng chính tài năng, lòng trung thực và bằng lao động không mệt mỏi của họ chứ không thể bằng sự nói bừa, làm bừa. Khi Cương nói: “Hội hoạ giá vẽ phải đạt mục đích cuối cùng là đẹp. Tranh phải đẹp.” Hinh như Cương ủng hộ chủ nghĩa duy mỹ trong nghệ thuật? Ngược lại, tôi muốn được làm người đọc lời điếu ngợi ca và tiễn đưa người Anh hùng Duy mỹ. Với tôi, người anh hùng ấy đã hoàn thành sứ mạng lịch sử và đã dến lúc đi vào quá khứ.


Một bức tượng bán thân bày trong cuộc triển lãm, phía trước là bộ tranh Liên minh


2.

Lại một sai lầm thô bạo khi Cương nói:
Mục đích của nghệ thuật mới không phải tạo ra cái đẹp về mặt thị giác. Mục đích của nghệ thuật mới là tạo ra một thông điệp. Một tác phẩm nghệ thuật mới bắt buộc phải có ý tưởng, phải xuất phát từ một ý tưởng nào đó cũng như kết thúc nơi người xem ở chỗ họ phải nhận được ý tưởng của nghệ sỹ thông qua tác phẩm. Hiệu quả thị giác của các tác phẩm nghệ thuật mới vì thế có thể là ghê rợn, kinh hãi, hoảng sợ, hoang mang, căng thẳng.

Tôi luôn cho rằng, chủ thể của sáng tạo là những người không bao giờ chấp nhận các giới hạn và khuôn phép cứng nhắc. Những bộ khung làm cho không gian sáng tạo trở nên chật hẹp và tù túng. Trong khi Cương có thể mãn nguyện với sự mất tự do của mình trong cái lồng son với những nguyên tắc, thì Cương lại đi trách cứ những người khao khát bầu trời sao không vào lồng để chia sẻ cùng anh sự tẻ nhạt đó. Thật khôi hài. Hơn nữa, tôi luôn trân trọng những tác phẩm có ý tưởng. Dù ở thời đại nào, theo trường phái nào,với bất kỳ hình thức thể hiện nào, chúng đều bình đẳng.Và tôi tin rằng chúng đều mang trong mình một thông điệp thời đại. Nếu không, chúng chỉ còn là trò mua vui mà thôi.


Hai thiên thần, tranh sơn mài (2008)

3.

Cuối cùng, phải nói rằng, tôi thật sự bất ngờ với Lê Thiết Cương khi anh nói:

Cho dù người ta vẽ cảnh tang tóc, chiến tranh súng ống thì vẫn phải vẽ bằng sự cảm động. F. Léger vẽ nhà máy, công nhân mặc quần áo bảo hộ nhưng vẫn cảm động. Tôi nghĩ Hà vẽ những bức tranh này lạnh lùng quá, “máy móc” quá. Anh quá chú trọng chạy theo ý tưởng. Những bức tranh của Lê Quảng Hà nhiều ý tưởng quá mà lại thiếu vẻ đẹp thị giác. Những bức tranh có vẻ như một bài phản biện, cũng không sao, nhưng nó phải được chuyển tải bằng cái đẹp.

Giật mình nhận ra rằng: đâu đây là sự độc ác mang khuôn mặt trẻ thơ hồn nhiên và trong sáng. Tôi tự hỏi mình và nhân đây, xin hỏi Lê Thiết Cương: Giữa tôi và anh, ai là người theo trường phái nghệ thuật tụng ca cho những điều “phản người” (từ của Lê Thiết Cương) đây? Những thứ đèm đẹp như Cương nói, tôi gọi nó là ma tuý của tâm hồn. Tôi chưa bao giờ có ý định lãng mạn hoá chiến tranh và bạo lực. Bởi tôi cho rằng, đó cũng chính là tội ác.

***

Để kết thúc, tôi xin được đính chính một điều. Lê Thiết Cương và một vài tờ báo đã nhầm lẫn khi gọi cuộc triển lãm vừa rồi của tôi tại Viện Goethe là Sắp đặt, cái tên nghe có vẻ sang trọng và thời thượng. Thực ra, với tôi, đó chỉ là nhu cầu muốn có sự liên kết giữa mầu, sắc, hình, khối mang tính thẩm mỹ cao trong không gian với mong muốn gửi tới người xem một thông điệp mang tên “MÁY”.

Luận về Hội họa Việt - (2)

Hội họa Việt Nam thời chiến tranh và hậu quả

trinhcung artist


(Bản tóm lược tham luận tại Hội thảo Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Singapore, 5-2008)
Tác giả : Họa sĩ TRỊNH CUNG


Bùi Xuân Phái, Chiến tranh (bột màu), 1970


I. Hội hoạ Việt Nam thời chiến tranh 1954-1975

1. Miền Bắc từ 1954-1975

Mặt trận Việt minh sau khi tiến hành thành công Cách mạng Mùa thu (1945) đã cho ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Sau sự kiện lịch sử này, đất nước chia đôi: miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc chế độ Cộng sản, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào theo chế độ Cộng hoà. Nền mỹ thuật non trẻ của Việt Nam cũng bị chia đôi. Những lớp hoạ sĩ tài năng đầu tiên do trường Mỹ thuật Đông dương đào tạo từ năm 1925 đến 1945 chia ra làm ba nhóm: nhóm chiếm số đông ở lại miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa như Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Sĩ Ngọc, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên…; một số ít ra nước ngoài như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Vũ Lăng, Lê Thị Lựu, Mai Trung Thứ…;và phần còn lại di cư vào Nam hoặc từ nước ngoài trở về miền Nam như Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ, Tạ Tỵ, Lưu Đình Khải, Lê Yên, Tôn Thất Đào, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Siên, Trần Dụ Hồng…




Dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, mỹ thuật miền Bắc không được phát triển theo xu hướng ảnh hưởng mỹ thuật Tây Âu như những năm trước 1945. Đường lối Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa được áp dụng triệt để nhằm phục vụ công cuộc xây dựng một miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa và cổ vũ cho cuộc chiến tranh lật đổ chế độ Sài Gòn do Hoa Kỳ hậu thuẫn. Trong suốt thời gian từ 1954 đến 1975, mỹ thuật miền Bắc chỉ bao gồm hai loại chính: tranh cổ động; và tranh ngợi ca Đảng, lãnh tụ, cổ xuý đấu tranh giai cấp. Khuynh hướng nghệ thuật này chịu ảnh hưởng sâu đậm mỹ thuật các nước cộng sản đàn anh là Liên Xô và Trung Quốc. Tất cả nghệ sĩ đều chịu sự quản lý cực kỳ chặt chẽ của Đảng, vì thế thông tin về mỹ thuật phương Tây đương thời gần như không xuất hiện, dù dưới bất cứ hình thức nào. Thái Bá Vân (đã mất) – nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật nổi tiếng một thời của Hà Nội – từng bị một cán bộ trưởng đoàn du học sinh tịch thu cuốn sách về danh họa Picasso khi ông đang trên chuyến tàu hỏa từ Tiệp Khắc về Việt Nam. Miền Bắc ngăn chặn triệt để tất cả thông tin từ bên ngoài nhằm giữ cho nền mỹ thuật của họ đi đúng đường lối của Đảng.

Sự trừng phạt nặng nề cho những ai dính đến vụ “Nhân văn Giai phẩm” năm 1956 đã bóp chết tất cả những ý tưởng muốn bày tỏ yêu cầu tự do sáng tạo. Những ai còn giữ tâm hồn nghệ sĩ và tình yêu nghệ thuật đích thực đều chịu một cuộc sống ngoài lề. Họa sĩ Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm và một số văn nghệ sĩ ít ỏi khác đã phải sống như những cái bóng thừa.


Nguyễn Gia Trí, Thiếu nữ (chi tiết-sơn mài), 1944

2. Miền Nam từ 1954 đến 1975

Sau hiệp định Genève 1954, miền Nam theo chế độ chính trị tam quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Dân chủ và tự do được tôn trọng,vì thế các hoạt động văn hoá nghệ thuật phát triển thuận lợi. Báo chí, nhà xuất bản, phòng trưng bày tranh, các salon văn nghệ, điện ảnh, kịch nghệ được tự do hoạt động và được nhà nước khuyến khích bằng những giải thưởng giá trị. Từ 1954 đến 1963 (nền Đệ nhất Cộng hòa do tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo) là giai đoạn huy hoàng của văn nghệ miền Nam. Chỉ trong chín năm, từ 1954 đến 1963, riêng lãnh vực mỹ thuật, miền Nam đã có hai trường Cao đẳng Mỹ thuật hoàn chỉnh (một cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận, một cho Huế và khu vực miền Trung),một giải thưởng mỹ thuật cấp quốc gia hằng năm mang tên Hội họa Mùa xuân, và một triển lãm Mỹ thuật Quốc tế có tầm cỡ (1962). Ngoài ra, các hoạ sĩ miền Nam còn có nhiều cơ hội tham gia những triển lãm quốc tế lớn như các Biennale ở Paris, Venise, São Paulo, Tunis, và được tự do lập hội. Sài Gòn trước khi có Hội Họa sĩ Trẻ năm 1966 đã có Nghiệp đoàn Hội họa, một hội nghề nghiệp dành cho tất cả những ai họat động trong lãnh vực mỹ thuật. Riêng việc ra đời của Hội Họa sĩ Trẻ là một sự kiện có tính bước ngoặc cho giai đoạn phát triển sâu vào hội họa hiện đại của mỹ thuật miền Nam Việt Nam. Hầu như không có một trường phái hội họa nào đang là trào lưu của thế giới mà không được các họa sĩ trẻ miền Nam cập nhật và thử nghiệm. Và họ đã gặt hái được những thành tựu làm thay đổi chất lượng sáng tạo của mỹ thuật miền Nam: từ đơn điệu, đậm chất họa thuật trường qui sang phóng khóang, tự chủ, đầy cá tính, và tiên tiến. Năm 1972, Hiệp hội Nghệ sĩ Tạo hình Thế giới đã chọn triển lãm tác phẩm gốc của các danh họa hiện đại như Picasso, Miró, Max Ernst, Soulage tại Sài Gòn. Thành phố này bấy giờ thực sự là trung tâm mỹ thuật hiện đại của Việt Nam.


Tạ Tỵ, Khăn choàng (bột màu), 1956

Sự lớn mạnh của hội họa miền Nam trong hai mươi năm (1954 – 1975) hoàn toàn hợp với qui luật phát triển,vì nó nhận được các điều kiện thuận lợi từ thể chế chính trị dân chủ cho đến nền kinh tế hưng thịnh, và một mặt bằng văn hoá, giáo dục tốt đẹp. Đó cũng là kết quả có tính tác động qua lại giữa ba khuynh hướng nghệ thuật: những nhà tiền phong (tự học hoặc từ bỏ trường quy), những người bảo thủ (đề cao trường quy),và những họa sĩ trẻ. Cần lưu ý là chính cuộc di cư năm 1954 của các văn nghệ sĩ Hà Nội đã đem một luồng gió mới cho sự phát triển văn hoá ở miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng, trong đó hội hoạ hiện đại là một phần quan trọng của hiện tượng vừa nêu với sự đóng góp rất lớn của các hoạ sĩ hoạt động độc lập như Nguyễn Gia Trí, Tạ Tỵ, Văn Đen,Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Vị Ý…


Nguyễn Trung, Cô gái và ngựa (sơn dầu), 1967

Rất tiếc, chiến tranh đã càng ngày càng leo thang tại miền Nam từ sau ngày tổng thống Diệm bị một số tướng lãnh Sài Gòn lật đổ với sự hậu thuẫn của người Mỹ, khiến cho các hoạt động văn học nghệ thuật bị ảnh hưởng rõ rệt. Giải thưởng Hội hoạ Mùa xuân bị huỷ bỏ; một giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng thống mang xu hướng bảo thủ ra đời.

3. Đối Với Miền Nam

Tất cả sinh họat mỹ thuật theo cách Sài Gòn đều phải dừng lại, nếu không muôn nói là phải hủy bỏ, kể từ ngày 30-4-1975. Nghệ sĩ phải “tự cải tạo” dưới chế độ mới, chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Nhiều tác phẩm hội họa bị chế độ mới đốt bỏ hoặc đưa vào bộ sưu tập “tội ác Mỹ Ngụy”. Cá nhân tác giả có bốn bức tranh thuộc bộ sưu tập của cố tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh đã bị chính chủ nhân đốt bỏ vì sợ hãi vào những ngày đầu Sài Gòn sụp đổ. “Trên Vùng An Nghỉ”, đoạt giải thưởng Hội họa Mùa xuân năm 1964, là một trong những bức tranh xấu số ấy.


Trên Vùng An Nghỉ, Trịnh Cung, 1962

Nhiều họa sĩ trẻ tài năng hàng đầu của hội họa Sài Gòn như Nguyễn Trung, Nguyên Khai… đã từ bỏ dòng tranh lãng mạn hiện đại để vẽ những tranh ca tụng Thanh niên Xung phong, bộ đội, công nhân theo chỉ đạo của chính quyền mới. Ngược lại, hơn phân nửa số họa sĩ tài năng không chấp nhận sự tước đoạt quyền tự do sáng tạo đã không tham gia họat động của Hội Mỹ thuật nhà nước, tiếp tục sáng tác độc lập hoặc tìm đuờng vượt thoát đến các nước tự do.

Hậu quả chiến tranh đối với mỹ thuật miền Nam rất nặng nề. Nó không chỉ làm sụp đổ lâu đài nghệ thuật hiện đại đang trên đường hoàn thành, mà còn thủ tiêu ý thức tự do sáng tạo của giới nghệ sĩ miền Nam. Đây là một thành công của chế độ mới. Góp phần vào sự thành công đó có phần hèn nhác của một số nghệ sĩ, họ đã giúp các nhà quản lý đóng nắp quan tài cho sáng tạo nghệ thuật của Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung.

Sài Gòn, 2008

----------------------------------------------------------

CÁI ĐẸP CÓ TIÊU CHUẨN KHÔNG?

Tác giả : Họa sĩ TRỊNH CUNG

Câu chuyện thứ nhất

Trong một buổi chiều ngồi ở càfê vỉa hè Highlands trên đường Đồng Khởi cùng với vài anh bạn, thấy một “chân dài” thanh mảnh trong một bộ áo váy ôm sát người hở nửa phần lưng rất bắt mắt kiêu kỳ lướt ngang qua, tôi buột miệng thốt lên: “Wow! Đẹp quá!”

“Ối giời ơi! Khẳng khiu như một cái que biết đi thế mà cậu cho là đẹp ấy à?” Anh bạn tôi, một nhà văn, giãy nảy.

Câu chuyện thứ hai

Trong một cuộc triển lãm tranh quốc tế tại một thành phố nọ, các tác phẩm được giải cao nhất đều là những tranh vẽ theo lối trừu tượng, nhiều người đi xem triển lãm đã tỏ ra bất bình với kết quả ấy, họ chỉ vào vài tác phẩm vẽ theo lối tả thực và cự nự: “Vẽ giống y như thật thế này mà sao không được trao huy chương vàng thế? Thật là bất công!”

Câu chuyện thứ ba

Trong một cuộc thi Tiếng Hát Truyền Hình gần đây, trước đêm chung kết, tôi nhận được một cuộc gọi của anh bạn Việt kiều: “Cậu chơi thân với TL, LA, hay NN,... nói hộ tôi, xếp cho Th vào giải chính, càng cao càng hay, tôi hứa lo đủ. Tôi gọi hoài mà LA không bắt máy...”. Và anh bạn say sưa “bài ca ngợi” bất tận về cô Th tuyệt vời và đầy triển vọng nào đó — một người sinh ra chỉ để làm ca sĩ chứ không thể là cái gì khác. Tôi vội mở tv để xem thực hư thế nào thì thấy cô Th mà anh bạn nói đến quả là một mỹ nhân rất bốc lửa, nhưng giọng hát thì... chỉ đáng làm ca sĩ karaoke mà thôi.


“Cái đẹp có tiêu chuẩn không?”

Vẻ đẹp phụ nữ trong tranh Pierre-Auguste Renoir

Ba câu chuyện trên có thể đã nói lên sự phức tạp của vấn đề thẩm mỹ trong sinh hoạt văn nghệ và trong đời sống hằng ngày. Thế nào thì được gọi là một cô gái đẹp, một tác phẩm mỹ thuật có giá trị, hay một giọng hát sáng giá? Lẽ dĩ nhiên đây là một công việc khó khăn và không phải ai cũng có khả năng đưa ra sự chọn lựa xác đáng, thường người ta phải dựa vào kết quả bình chọn của một tập thể những nhà chuyên môn có nhiều kiến thức về nghệ thuật được uỷ nhiệm làm giám khảo.

Tuy thế, không phải tất cả các kết quả ấy đều được dư luận đồng tình. Ở đây chúng ta không bàn đến những kết quả bất thường vì những lý do tiêu cực mang tính mua chuộc hoặc thương mại. Trình độ kiến thức và thị hiếu không cùng một đẳng cấp thường là nguyên nhân chính của những kết quả không thuyết phục. Và để biện minh cho những bất đồng này, nhiều người thường đem thành ngữ “chín người mười ý” ra để khoả lấp cho xong chuyện.

Thực ra, cái đẹp có những tiêu chuẩn riêng cho từng sự vật và sự việc, và nó thay đổi theo sự phát triển của từng thời kỳ văn hoá và văn minh của loài người. Từng thời kỳ một có thể kéo dài qua nhiều thế kỷ hoặc chỉ từng thế kỷ, các khái niệm về cái đẹp nối tiếp nhau thay đổi bởi sự đòi hỏi của cuộc sống con người, mặc dù không thiếu những tranh cãi thường xuyên và liên tục về những tiêu chuẩn của cái đẹp. Các triết gia từ Socrates xa xưa cho đến Hegel đã nối tiếp nhau đi tìm một định nghĩa thống nhất cho cái đẹp phi vật chất (la beauté immatérielle) và coi việc nghiên cứu cái đẹp là một khát vọng vĩnh cửu. Và mỹ học đã trở thành một chuỗi hạt ngọc về tư tưởng quanh cái đẹp không ngừng được bổ sung và tiếp tục suy nghiệm theo mỗi bước đi của thời đại. Cái đẹp ở trong vô số dạng thức khác nhau như văn học, âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, kiến trúc, thời trang, thân xác, ngoại cảnh, nội thất; và bao trùm lên hết thảy là vẻ đẹp phi vật chất, như Socrates đã nói: “Nhìn là giác quan tinh vi nhất của cơ thể, đồng thời cái đẹp cũng đã nhận từ sự phân chia của tạo hóa cái phần đáng yêu nhất.”


Vẻ đẹp phụ nữ trong tranh Amedeo Modigliani

Tựu trung, nói theo cách đơn giản hơn, để cảm nhận được cái đẹp, chúng ta phải nhờ vào hai điều kiện: 1. cảm tính; 2. kiến thức. Những người không có điều kiện học đầy đủ thường chọn lựa vẻ đẹp theo bản năng, cảm tính của mình. Nhưng sự cảm thụ cái đẹp trong các công trình nghệ thuật lại không thể dễ dàng với tầng lớp công chúng bình dân vì họ ít được tiếp cận và thiếu cập nhật với các thông tin về những trào lưu sáng tạo mới xuất hiện. Ngay cả trong giới trí thức và văn nghệ sĩ chúng ta cũng không có nhiều người thường xuyên tiếp xúc với nghệ thuật mới và các thông tin về hoạt động sáng tạo mỹ thuật của các cộng đồng khác trên thế giới, nên tình trạng dễ bị tụt hậu và bảo thủ là điều không tránh khỏi.

Mỗi thời đại, riêng đối với mỹ thuật, các tiêu chuẩn của cái đẹp trước hết được định ra bởi những nhà sáng tạo. Các hoạ sĩ cổ điển thời tiền phục hưng cho đến các hoạ sĩ thời tân cổ điển kéo dài từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19 đã thiết lập và giữ vững các tiêu chuẩn của cái đẹp dựa vào sự cân đối, hài hoà, nhịp nhàng và chặt chẽ về bố cục, màu sắc, đường nét, ánh sáng bằng một bút pháp tinh tế và nắn nót. Đầu thế kỷ 20, các nhà tiền phong thời hiện đại đã phủ lên những tiêu chuẩn ấy một tấm vải liệm bằng những khái niệm hoàn toàn mới về cái đẹp của những tác phẩm mỹ thuật. Những sự phá vỡ phép cân đối, luật viễn cận, không gian hai chiều và tình hoà hợp của màu, khởi từ trường phái Ấn tượng đến Trừu tượng đã làm thay đổi lớn lao các tiêu chuẩn của cái đẹp trong tác phẩm mỹ thuật.


Vẻ đẹp phụ nữ trong tranh Francis Bacon

Một ví dụ rất cụ thể cho sự thay đổi mau chóng quan niệm về cái đẹp hình tượng con người: chỉ trong không hơn ba thập niên đầu của thế kỷ 20, từ mẫu mực vẻ đẹp đẫy đà phồn thực của Auguste Renoir chuyển sang hình mẫu dài và buồn của Modigliani, và lại được Francis Bacon lập ra một hình mẫu con người tật nguyền, biến dạng và cực kỳ cô đơn. Các nhà mỹ học đã gọi đây là thời đại của “thẩm mỹ chông chênh” (esthétique de choc). Thẩm mỹ chông chênh này đã tồn tại không quá 50 năm ở phương Tây.

Mỹ học đương đại đã trở thành cơn lốc ngày càng mạnh sau khi Marcel Duchamp lập ra mỹ thuật ý niệm với " Cái bồn tiểu " (1917), và ngày nay mỹ thuật ý niệm không chỉ diễn ra ở các nước Âu Mỹ mà đang tràn qua các lục địa còn lại.

Triết học giải cấu — déconstruction (có nơi gọi là huỷ cấu trúc) của Jacques Derrida — có lẽ đã nhìn nhận cần phải phá vỡ những tiêu chuẩn cái đẹp đã được thiết lập bởi chủ nghĩa hiện đại của những nhà tiền phong như Tristan Tzara, Jean Arp, Max Ernst, Marcel Duchamp, Paul Klee,... và mở ra một bầu trời mỹ học đương đại cho thời đại mỹ thuật “bây giờ” (Art Now).

Rõ ràng cái đẹp luôn luôn có những tiêu chuẩn khác nhau của nó, tuỳ vào từng thời đại mà nó được tạo ra. Cái đẹp là một khái niệm mở, tạo ra những vẻ đẹp biến hoá không ngừng trong nghệ thuật nói riêng và trong đời sống nói chung. Vì thế, sự bắt chước rập khuôn, tuân theo những nguyên tắc của người đi trước để làm công việc sáng tạo và thẩm định giá trị tác phẩm hôm nay, là dấu hiệu tiêu vong của nghệ thuật.

SG, 01.12.2008

    Luận về hội họa Việt - (1)

    (Bài viết của 2 họa sĩ Phan Cẩm Thượng và Nguyễn Hưng trên báo "Thể thao- Văn hóa")

    “Hoạ sĩ là ai?” - Tác giả : Phan Cẩm Thượng



    Tranh minh họa

    Vẫn như thời bao cấp, họa sĩ là một khái niệm danh dự, hơn là một nghề nghiệp, vì trong phân công lao động hiện tại, nó chẳng nằm trong thang bậc nào. Bạn làm ở cơ quan nào thì ăn lương theo chức nghiệp tương đương ở cơ quan đó. Có thầy giáo, giáo sư dạy vẽ và lại còn là cán bộ mỹ thuật. Những họa sĩ tự do không có lương, không đóng thuế, cũng như hoàn toàn bỏ tiền tự lo lấy nghề nghiệp của mình, nhưng từ khi bỏ công chức, thì nhiều người cảm thấy có vẻ là họa sĩ chuyên nghiệp hơn.

    Khái niệm họa sĩ chuyên nghiệp ở Việt Nam được hiểu một cách buồn cười. Ai học qua trường Mỹ thuật và vẽ thường xuyên thì coi là chuyên nghiệp. Ai tự học, dù có nổi danh đến mấy vẫn bị đố kỵ và coi là nghiệp dư. Là họa sĩ mà vẫn sính các danh hiệu giáo sư, tiến sĩ, chủ tịch hội, thư ký này nọ... Thực chất cho thấy càng nhiều chức vụ, họ càng ít và càng xa với sáng tác, càng nhiều học vị càng thấy họ mèng hơn. Làm tròn danh hiệu một họa sĩ thì chí ít phải có tranh để đời. Không có cái đó, ông ta chỉ là một thường nhân khéo tay hay mắt.

    Ở nhiều nước phương Tây, khi nghệ thuật là một hoạt động thường nhật và đỉnh cao của tinh thần, được gọi là họa sĩ chuyên nghiệp không dễ gì. Anh ta phải chứng minh, bằng nghề nghiệp của mình đem lại thu nhập đều hàng tháng, ví dụ 3000 euro, và Nhà nước sẽ tính thuế và số tiền đó từ 30-40% tùy theo. Như vậy tranh của anh ta mới được đem đấu giá, được sắp xếp thứ hạng trong xã hội, và được giảm giá nhiều hàng hóa phục vụ cho nghề nghiệp, và được nhận tài trợ lớn (nếu có thể). Một họa sĩ chỉ được bày tranh ở một, hai gallery mà thôi. Còn lại là nghiệp dư không tính đến, như cầu thủ chân đất đá cho vui mắt, mà không kiếm được đồng nào cả.


    Tranh minh họa

    Quy luật này, về đại thể, không thể áp dụng cho các nước chậm và đang phát triển. Nhưng khi các nền văn hóa cần giao lưu, cần cọ xát thì nó nảy sinh vấn đề. Các họa sĩ Việt Nam có thể bán tranh trong nước, nhưng khi ra nước ngoài, chủ yếu chỉ được nhìn nhận trên phương diện trao đổi văn hóa, và với các gallery tầm thấp, chứ không tài nào có thứ bậc gì trong nghệ thuật phương Tây. Khi mở cửa, văn hóa nghệ thuật có vẻ là lĩnh vực đi đầu, tạo ra nhiều mối quan hệ song phương và đa phương, nhưng dần dà, dường như chỉ có thể làm ăn kinh tế, đôi bên cùng có lợi, còn văn hóa nghệ thuật thì mọi nẻo đường đi đến sân chơi đỉnh cao đều bị bịt chặt.

    Thời bao cấp, Nhà nước thông qua hội đoàn cấp vật liệu, lo trưng bày triển lãm, sau đó bảo tàng chọn mua. Nghệ sĩ được bao cấp toàn diện cả về vật chất lẫn tinh thần trong một quy trình khép kín. Khi sự bao cấp chấm dứt, thói quen này vẫn còn tồn tại. Ở nhiều địa phương, họa sĩ vẫn chờ đợi được cấp vật liệu thì vẽ, không thì thôi. Ở Hà Nội, có khá hơn, nhưng không ít họa sĩ chẳng biết vẽ gì, luôn đòi hỏi Hội phải định hướng sáng tác. Lớp họa sĩ trẻ không qua chiến tranh, nếm trải chút ít khó khăn cuối thời bao cấp, tỏ ra thờ ơ với những điều mà những người đi trước quan tâm. Đề tài chiến tranh cách mạng không mấy thu hút họ. Tự lo học hành, kiếm việc ra trường, rồi tự lo triển lãm, bán tranh, cũng như tìm kiếm quan hệ với các hoạt động nghệ thuật ngoài nước. Cái mới tỏ ra quan trọng hơn cái đẹp. Gây sốc để được chú ý. Theo đuổi những hình thức tân kỳ, và tự coi mình là nghệ sĩ tiên phong, tất nhiên không tiến đến chỗ tham nhũng. Song cái thời phấn khởi tranh bán chạy như tôm tươi đã qua, nếu không muốn suy đồi bởi thương mại hóa, chỉ còn cách lao vào hoặc Pop Art chính trị, hoặc là Sắp đặt và Trình diễn, và tìm kiếm tài trợ ít ỏi từ các quỹ văn hóa nước ngoài.


    Tranh minh họa

    Ở phương Tây, quý nhất là họa sĩ tự học, thứ đến là họa sĩ học từ một bậc thầy, hạng bét là họa sĩ học tại trường. Picasso nói rằng Trường Mỹ thuật Paris đã đẽo ra những đôi guốc giống nhau, nhưng không đi được. Người tự học đáng quý vì họ thực sự có nhu cầu thôi thúc nội tại, không chờ đến ai dạy mình. Và thầy giỏi dễ dạy ra trò giỏi. Những sinh viên ra trường lại cần có cơ chế đỡ đầu mới có thể gia nhập hoạt động nghệ thuật xã hội. Ví dụ hàng năm có 25 họa sĩ tốt nghiệp. Người ta giao tiền cho năm nhà phê bình, mỗi người phụ trách năm họa sĩ, cho họ tiền và dạy bảo họ về ý tưởng nghệ thuật. Sau vài năm, thì tổ chức triển lãm và lọc ra vài người, gọi là có tài năng, đưa vào cơ chế chuyên nghiệp, bắt đầu từ những thang thấp nhất của hệ giá cả. Số còn lại đành tìm những công việc khác như quảng cáo, dạy học, trang trí thiết kế. Tài năng không phát triển theo quy luật nào. Có người bắt đầu vụt sáng, sau lại lụi nhanh, có người quá lứa mới bộc lộ, vậy vẫn cần theo dõi để khỏi bỏ sót. Khi họ sáng tác cần có các công ty kinh doanh bảo trợ, ngược lại nghệ sĩ giúp các công ty giáo dục văn hóa nghệ thuật cho công nhân. Nhà nước sẽ bớt thuế và ưu tiên thị phần cho những công ty giúp đỡ lớn cho nghệ thuật. Trong hàng vạn người mới có một người biết vẽ. Trong hàng vạn họa sĩ mới có một danh họa. Do vậy họa sĩ không phải là con người phổ biến. Phê bình và Gallery sẽ tách họ ra khỏi kinh doanh, để tránh sự thu hút của thị trường. Sau khi họa sĩ chết, người ta sẽ mua lại xưởng vẽ và làm địa chỉ văn hóa cho địa phương. Chỉ có một hệ thống tích cực như vậy, xã hội mới có được hiền tài và phát triển văn hóa. Ta thường gào rất to rằng Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái là danh họa. Vậy có ai biết danh họa ấy vẽ bao nhiêu tác phẩm, chúng đang ở đâu, và căn phòng bé nhỏ của các ông còn di vật gì, ai đang ở?


    Nguyên Hưng viết phản hồi bài : " Họa sĩ là ai ? "


    Tranh minh họa

    Bài “Hoạ sĩ là ai?” của Phan Cẩm Thượng đăng trên báo Thể thao và Văn hoá mới đây, dường như, đã nhận được sự đồng tình của khá nhiều người trong làng mỹ thuật Việt Nam, và khá nhiều người có chút quan tâm, hiểu biết về mỹ thuật Việt Nam. Được cho là đúng. Là dũng cảm.

    Cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

    Một, nó gãi đúng chỗ ngứa của họ. Lâu nay, hầu như chẳng còn mấy ai không chán nản với hiện tình mỹ thuật Việt Nam, không ngán ngẩm với cung cách ứng xử trong nghệ thuật nơi khá đông hoạ sĩ, không cảm thấy mỏi mệt trước những bất cập và bất lực (kể cả bất công) của cơ chế và bộ máy quản lý chuyên ngành v.v…

    Hai, nó cũng cận kề cách nhìn, tầm nhìn của họ-đại khái, đã là mỹ thuật, thì phải “đẹp”, phải “cao cả”, phải có giá trị “để đời”…; đã là hoạ sĩ, thì phải như “thiên sứ”, phải “lãng mạn”, phải “hiến dâng”… v.v…

    Tuy nhiên, dù được nhiều người chú ý và đồng tình như vậy, bài viết có tham vọng định hướng của Phan Cẩm Thượng, thực ra, chỉ là một bài viết đầy sai lầm. Trong đó có nhiều sai lầm thật ấu trĩ đến độ đáng kinh ngạc.


    Tranh minh họa

    Một, những sự thật mà nó phơi ra, chỉ là những sự thật nửa vời. Ngang chuyện “buôn dưa lê” nơi hè phố, nơi quán nhậu, chứ không giúp ích được gì cho nhận thức. Nghĩ xem. Hiện tượng giả danh, núp bóng nơi một bộ phận hoạ sĩ gắn bó với cơ chế bao cấp, và, hiện tượng láu cá, cơ hội nơi một bộ phận hoạ sĩ bơ vơ trước các quan hệ thị trường và khung cảnh toàn cầu hoá là có thật. Nhưng, đừng quên, đó là những sản phẩm bị điều kiện hoá bởi môi trường. Tôi phải tô đậm mấy chữ “gắn bó” với “bơ vơ” để ai cũng thấy ngay cái tình trạng nào đã dồn nén, đùn đẩy số đông hoạ sĩ Việt Nam vào cái tư thế “tồi tồi, tội tội” không nên có như vậy.

    Trong bài viết, không phải Phan Cẩm Thượng không đề cập đến cái tình trạng này. Có. Nhưng nó cũng chỉ mới chạm đến những bất cập trong thiết chế văn hoá mỹ thuật Việt Nam (Chuyện không có ai coi trọng, không có cơ chế phát hiện và nâng đỡ nhân tài-vốn hiếm “như lá mùa thu”), chứ không đụng đến những thái quá trong cái nhìn chỉ đạo (và chủ đạo) dẫn đến sự cấu thành hay chi phối cái thiết chế văn hoá mỹ thuật đó.

    Vấn đề của nghệ thuật không phải là vấn đề đạo đức. Càng không đơn giản là vấn đề tổ chức. Chính yếu là ở cái nhìn. Không bóc tách các vấn đề này sẽ không soi sáng được thực tại. Chưa nói đến ý nghĩa thực tế của các “giải pháp” này nọ…

    Tất cả chúng ta, sáng tỏ hay mơ hồ, có lẽ đều biết cái thiết chế văn hoá mỹ thuật Việt Nam cho đến nay được xây dựng và vận hành dưới cái nhìn nào. Nói trắng ra, là dưới cái nhìn chính trị hoá theo lối “tư duy thời chiến” (địch-ta phân minh). Dưới cái nhìn này, hoạ sĩ, đơn giản chỉ là một thành phần tương tác, có ảnh hưởng đến nhiều người khác, cần được kiểm soát, điều khiển. Nó nghiêm trọng hoá các vấn đề nội dung tư tưởng, vấn đề bản sắc (dân tộc), vấn đề đạo đức (nghệ sĩ)…; khoá chặt nghệ thuật trong các mối quan hệ với hiện thực và các khuôn mẫu ý thức hệ…; ngăn chặn hết mọi nỗ lực tìm tòi sáng tạo “làm khác”... Khi được thể hiện thông qua một bộ máy hành chính toàn trị (có đãi ngộ, có trừng phạt…), nó trở thành vùng đất màu mỡ cho bọn cơ hội, những kẻ bất tài nảy nở, thao túng; là nguồn gốc của mọi phản ứng chống báng hay thoát ly “vô chính phủ”, hư vô hoá mọi sự…; là nguyên nhân của sự bình dân hoá, nghiệp dư hoá cả thảy trong nghệ thuật, đẩy cả nền mỹ thuật Việt Nam vào trạng thái đầm lầy: thật/giả, cao/thấp lẫn lộn, trì kéo lẫn nhau v.v… và v.v…

    Cái nhìn này, đáng lý ra phải được thay đổi thích ứng với hoàn cảnh mới (xây dựng đất nước, cần kích thích khả năng sáng tạo, mở rộng và nâng cao các năng lực cá nhân…), nhưng nó vẫn cứ như vậy. Thậm chí sau chút chợn “đổi mới” nó ngày càng cực đoan hơn. Phải chăng nó quá sắt đá hay đơn giản cũng đang bị che chắn, cản trở bởi chính những hậu quả do nó gây ra? Dường như, nó đang là nạn nhân của chính nó-hệ lụy lần quần: sự quan liêu của bộ máy điều hành, sự lạc hậu trong cách nhìn nghệ thuật, sự hờ hững hay mụ mẫm nơi công chúng…, và đặc biệt, là sự hèn hạ hay bất lực của phê bình. (Đặc biệt, bởi khi phê bình đã trở nên hèn hạ hay bất lực, cơ may đổi mới cái nhìn này trở nên bằng không.)



    Tranh minh họa

    Hai, đáng nói hơn, là sự bất phân, tù mù chính trong não trạng, trong cách tư duy Phan Cẩm Thượng. Cái thước đo mà anh đưa ra: hoạ sĩ là người vẽ tranh có thực tài, sống đời chuyên nghiệp và có tranh để đời, dễ tưởng xác định nhưng kỳ thực hết sức mơ hồ. Bởi tiếp ngay theo đó, thế nào là thực tài, thế nào là chuyên nghiệp, thế nào là tranh để đời… vẫn còn là chuyện mơ màng. Phải đứng trên một lập trường, trên một hệ thống mỹ học nào đó, người ta mới có thể có được câu trả lời xác định. Bất cứ ai am hiểu lịch sử nghệ thuật, có lẽ đều hiểu:trước câu hỏi “Hoạ sĩ là ai?”, trong những góc nhìn nghệ thuật, với những mục đích khác nhau, người ta đều có cách trả lời riêng. Nhớ, trước đây, khi người ta từ chối tranh Ấn tượng, chắc hẳn, người ta cũng từ chối luôn cái tư cách hoạ sĩ Ấn tượng chủ nghĩa. Với hội hoạ Trừu tượng và hoạ sĩ Trừu tượng chủ nghĩa cũng thế. Không hiếm hoạ sĩ tài năng, đương thời, bị xem như là những “thằng điên”, những kẻ “nổi loạn” cần phải ngăn chặn hay cô lập… Phan Cẩm Thượng đứng trên lập trường, trên hệ thống mỹ học nào để tiêu chuẩn hoá thước đo của mình?

    Đặt vấn đề chuyên nghiệp/không chuyên nghiệp lúc này là cần thiết. Nhưng chuyên nghiệp có phải là: “Ở nhiều nước phương Tây, khi nghệ thuật là một hoạt động thường nhật và đỉnh cao của tinh thần, được gọi là hoạ sĩ chuyên nghiệp không dễ gì. Anh ta phải chứng minh, bằng nghề nghiệp của mình đem lại thu nhập đều hàng tháng, ví dụ 3000 euro, và Nhà nước sẽ tính thuế và số tiền đó từ 30-40% tùy theo. Như vậy tranh của anh ta mới được đem đấu giá, được sắp xếp thứ hạng trong xã hội, và được giảm giá nhiều hàng hoá phục vụ cho nghề nghiệp, và được nhận tài trợ lớn (nếu có thể). Một hoạ sĩ chỉ được bày tranh ở một, hai gallery mà thôi. Còn lại là nghiệp dư không tính đến, như cầu thủ chân đất đá cho vui mắt, mà không kiếm được đồng nào cả.” Ở đầu bài viết, Phan Cẩm Thượng đã đúng khi cho định nghĩa một hoạ sĩ chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn bằng cấp hay danh vị là “buồn cười”. Quả thực, tài năng hoạ sĩ chẳng dính dáng gì đến chức vụ hành chánh của họ cả, thậm chí, đúng như Phan Cẩm Thượng nói, “càng nhiều chức vụ… càng ít và xa rời sáng tác...”. Nhưng đến chỗ này, thì Phan Cẩm Thượng cũng nhãm. Nhìn sang phương Tây, Phan Cẩm Thượng lại sai khi định nghĩa hoạ sĩ chuyên nghiệp theo mức thu nhập của họ. Ở đây, Phan Cẩm Thượng hoàn toàn không phân biệt hai khái niệm hoạ sĩ chuyên nghiệp và hoạ sĩ thương mại. Theo cách nhìn của Phan Cẩm Thượng, Van Gogh, người chẳng bao giờ sinh sống được bằng nghề vẽ tranh sẽ bị xem là thiếu chuyên nghiệp hơn một hoạ sĩ chuyên vẽ tranh trang trí nội thất nhan nhản ở Tây phương.


    Tranh minh họa

    Trong bài, Phan Cẩm Thượng hay viết theo kiểu “Tây nó như thế này, Tây nó như thế kia”…”hay lắm!”. Ở những chổ này, Phan Cẩm Thượng đã để lộ khá nhiều bất ổn, từ thái độ cho đến kiến thức. Khi viết: “Quy luật này, về đại thể, không thể áp dụng cho các nước chậm và đang phát triển. Nhưng khi các nền văn hoá cần giao lưu, cần cọ xát thì nó nảy sinh vấn đề. Các hoạ sĩ Việt Nam có thể bán tranh trong nước, nhưng khi ra nước ngoài, chủ yếu chỉ được nhìn nhận trên phương diện trao đổi văn hoá, và với các gallery tầm thấp,chứ không tài nào có thứ bậc gì trong nghệ thuật phương Tây.”, Phan Cẩm Thượng đã xem phương Tây như là tiêu chuẩn chính để xếp hạng nghệ thuật Việt Nam cũng như các nước khác. Cái nhìn mang tính “dĩ Âu vi trung” này đã hoàn toàn lỗi thời. Từ mấy thập niên gần đây, với sự phát triển của chủ nghĩa hậu thực dân-postcolonialism-người ta thấy cách nhìn mang tính “dĩ Âu vi trung” này chỉ là di sản của chủ nghĩa thực dân ngày trước mà thôi… Đến đoạn Phan Cẩm Thượng nói chuyên học hành, tu luyện của các hoạ sĩ phương Tây ngày nay, thì quả thật, đáng kinh ngạc. Phục Tây, lấy Tây làm mẫu mực, nhưng hình như Phan Cẩm Thượng không hiểu gì về sinh hoạt nghệ thuật đương đại Tây phương cả. Lỗi nhiều quá, viết câu nào lỗi câu ấy, nên ở đây, tôi phải vừa trích Phan Cẩm Thượng vừa chen ngang ý kiến của mình. (Phần để trong ngoặc đơn, in đậm là ý kiến của tôi): “Ở phương Tây, quý nhất là hoạ sĩ tự học, thứ đến là hoạ sĩ học từ một bậc thầy, hạng bét là hoạ sĩ học tại trường. (Bằng chứng đâu? Người ta chờ đợi Phan Cẩm Thượng đưa ra một con số thống kê để cho thấy điều này là sự thật, nhất là dựa trên thời điểm hiện nay hoặc gần đây chứ không phải ngày xưa) Picasso nói rằng Trường Mỹ thuật Paris đã đẽo ra những đôi guốc giống nhau, nhưng không đi được. Người tự học đáng quý vì họ thực sự có nhu cầu thôi thúc nội tại, không chờ đến ai dạy mình.(Nếu yếu tố “quý” là động cơ thì dựa vào đâu Phan Cẩm Thượng cho những người đến trường không có sự “thôi thúc nội tâm”? Nếu không có những “thôi thúc” ấy làm sao họ đủ can đảm trải qua bao nhiêu năm ở trường học?) Và thầy giỏi dễ dạy ra trò giỏi. (nếu lập luận này đúng thì sinh viên hội hoạ chính quy phải giỏi hơn những người tự học chứ? Vì, một, ở đại học mỹ thuật hiện nay, người ta thường mời những giáo sư giỏi vào dạy; hai, ở đại học, người ta có nhiều thầy giỏi hơn là tự học chứ?)Những sinh viên ra trường lại cần có cơ chế đỡ đầu mới có thể gia nhập hoạt động nghệ thuật xã hội. Ví dụ hàng năm có 25 hoạ sĩ tốt nghiệp. Người ta giao tiền cho năm nhà phê bình, mỗi người phụ trách năm hoạ sĩ, cho họ tiền và dạy bảo họ về ý tưởng nghệ thuật. (Phan Cẩm Thượng có thể cho bằng chứng được chăng? Ở đâu người ta lại trọng vọng nhà phê hình như vậy? Ai sẽ trả tiền cho các nhà phê bình ấy. Tôi cho đây chỉ là điều tưởng tượng của Phan Cẩm Thượng mà thôi) Sau vài năm, thì tổ chức triển lãm và lọc ra vài người, gọi là có tài năng, đưa vào cơ chế chuyên nghiệp (nói vậy, chuyên nghiệp là một tổ chức? tổ chức nào vậy?) , bắt đầu từ những thang thấp nhất của hệ giá cả.(Phan Cẩm Thượng dựa trên giá tranh để định mức giá trị nghệ thuật. Tầm phào)”


    Tranh minh họa

    Về căn bản, thể hiện qua bài viết, cái nhìn nghệ thuật Phan Cẩm Thượng, vẫn cắm neo trong truyền thống nghệ thuật Cổ điển và mang đậm màu sắc Lãng mạn chủ nghĩa-sản phẩm học thuật thời thuộc địa, được “bảo kê” và trở thành sức ì của cái nhìn chính trị hoá nêu trên-vẫn hình dung mỹ thuật chỉ là tranh, là tượng, là những thứ có thể “để đời”; vẫn vững tin có một tiêu chuẩn vĩnh cữu và bất biến về cái đẹp, về giá trị nghệ thuật; vẫn mơ hồ về sứ mệnh cao cả “cứu rỗi nhân loại” nơi người nghệ sĩ v.v… Cứ đọc đoạn anh viết về các hoạ sĩ trẻ ngày nay sẽ thấy ngay điều này: “… Lớp hoạ sĩ trẻ không qua chiến tranh, nếm trải chút ít khó khăn cuối thời bao cấp, tỏ ra thờ ơ với những điều mà những người đi trước quan tâm. Đề tài chiến tranh cách mạng không mấy thu hút họ. Tự lo học hành, kiếm việc ra trường, rồi tự lo triển lãm, bán tranh, cũng như tìm kiếm quan hệ với các hoạt động nghệ thuật ngoài nước. Cái mới tỏ ra quan trọng hơn cái đẹp. Gây sốc để được chú ý. Theo đuổi những hình thức tân kỳ, và tự coi mình là nghệ sĩ tiên phong, tất nhiên không tiến đến chỗ tham nhũng. Song cái thời phấn khởi tranh bán chạy như tôm tươi đã qua, nếu không muốn suy đồi bởi thương mại hoá, chỉ còn cách lao vào hoặc Pop Art chính trị, hoặc là Sắp đặt và Trình diễn, và tìm kiếm tài trợ ít ỏi từ các quỹ văn hoá nước ngoài…”- Đâu cần thiết phải qui hoạ sĩ về các mối quan hệ hiện thực. Hoạ sĩ tự lo hết moi chuyện có gì đáng chê trách? Cái đẹpvới cái mới phải chăng là một cặp đối lập một mất một còn? Bản thân hiện tượnggây sốc không ẩn chứa một động cơ chính đáng, một sự thật nào đó? Chạy theo những hình thức tân kỳ và tự cho mình là tiên phong phải chăng là tha hoá? Lao vào Pop Art chính trị hoặc Sắp đặt và Trình diễn phải chăng là sai lạc? v.v… Cái nhìn này, thực tế, đã quá lạc hậu. Thực ra, là đã trở thành phản động. Đó là cái nhìn có tính loại trừ, cản trở những nổ lực đổi mới và làm cho người hoạ sĩ không thực sự biết mình là ai nữa.


    Tranh minh họa

    Thêm nữa, dường như, núp đàng sau, chi phối cả thảy, là chút tinh thần “đồ gàn” ngàn năm rơi rớt nêm chặt trong các khuôn mẫu “chính nhân quân tử”, coi khinh “con buôn”, không chấp nhận phiêu lưu và nghi ngờ mọi khát vọng tự do… Điều này thể hiện rõ ở chổ, tuy là bài mở đầu cho loạt bài “Chuyện thị trường nghệ thuật Việt Nam” nhưng Phan Cẩm Thượng lại phớt lờ, không phân tích, đánh giánhững cách nhìn khác nhau về người hoạ sĩ (và nghệ thuật) trong cái nhìn kinh tế thương mại. Phải chăng, trong quan hệ này, mọi chuyện đều chỉ có “suy đồi”?

    Trong cái nhìn kinh tế thương mại, hoạ sĩ đơn giản chỉ là những “con gà đẻ trứng vàng”. Nó nhận diện, đánh giá và tuyển chọn hoạ sĩ chủ yếu theo qui luật cung-cầu. Cầu đến đâu (tính chất, trình độ) nó theo đến đó. Sự tồn tại của nó, căn bản bám sát các mối quan hệ thực tế nghệ thuật-công chúng. Các gallery không mua bán tranh pháo “cao cấp”, chắc chắn chẳng phải vì nó không muốn hay không đủ trình độ. Vấn đề là người mua tranh pháo “cao cấp” đâu rồi?! Đối với nó, không có công chúng, nghệ thuật không tồn tại. Nếu đừng quá cứng ngắt, áp đặt một tiêu chuẩn “cao cấp” cho thị trường, để rồi lên giọng khệnh khạng phê phán… mà thừa nhận cái đặt thù của cái nhìn kinh tế thương mại và tỉnh táo phân tích, Phan Cẩm Thượng chắc hẳn sẽ nhận ra bao nhiêu đề tài thực tế hơn cho phê bình. Chẳng hạn: Một, nhận diện phía “cầu”, là nhận diện các thành phần công chúng (mua và không mua tranh), là nhận diện mặt bằng văn hoá xã hội, là nhận diện hiện trạng và những chuyển động trong tâm lý xã hội v.v…. Hai, nhận diện phía “cung”, là nhận diện thái độ và cung cách ứng xử của các nghệ sĩ trong nghệ thuật đối diện với đồng tiền v.v… Ba, nhận diện phía trung gian-các gallery-xác định lại vấn đề thế nào là chuyên nghiệp với không chuyên nghiệp v.v… Bốn, từ trong quan hệ, phát hiện các “cung cách lệch chiều” (trong hoạt động sáng tác, tuyên truyền), các “lỗ hổng” (trong thiết chế văn hoá mỹ thuật)…từ đó, đề xuất các phương án điều chỉnh cơ cấu (quản lý, điều hành), tăng thêm các thành phần tương tác v.v… và v.v...


    Tranh minh họa

    Đừng quên, thị trường là một trong những cơ sở hạ tầng của một nền nghệ thuật, là một trong những thành tố làm nên diện mạo của một nền văn hoá mỹ thuật, là một trong những lực đẩy làm cho nghệ thuật phát triển và phổ cập. Đặc biệt, trong bối cảnh cái nhìn chính trị hoá còn chi phối nặng nề, thị trường là một cơ may… Thị trường không chỉ có “suy đồi”. Nó có “cao”, có “thấp”. Các chủ gallery không phải chỉ là bọn “con buôn” vớ vẩn. Có người “hay”, người “dở”… Cần phải có cái nhìn phân tích công bằng hơn với nó…
    ***

    Ở trên, tôi phân tích một số những sai lầm và bất cập trong bài viết của Phan Cẩm Thượng. Thực ra, tôi phân tích dài dòng như vậy không phải vì bản thân bài viết ấy. Một bài viết kém không cần phải phân tích nhiều vì tự nó sẽ bị quên lãng nhanh chóng. Tuy nhiên, như tôi đã trình bày ngay ở đầu bài, vì bài viết này hình như nhận được sự đồng tình của nhiều người, nên vì chính những người ấy, tôi mới viết bài này. Ðiều cuối cùng tôi muốn trình bày là: Nghệ thuật chưa bao giờ đơn giản. Vấn đề hoạ sĩ là ai, cũng vậy.